Đỗ Văn Luyến với “Câu thơ thao thức chuyện đời...”

        Đỗ Văn Luyến sinh năm 1955 hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh quê thôn Xuân Cầm xã Xuân Sơn huyện Đông Triều. Ông tốt nghiệp khóa 4 Học viện An ninh nhân dân từng công tác tại tỉnh Phú Khánh (cũ) và Hà Nội hiện công tác tại Công an TX Uông Bí. Ông đã xuất bản ba tập thơ: Nghe hát sông quê (Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh 2005); Đôi bờ sông trăng (NXB Hội Nhà văn 2009); Làng bên sông (NXB Hội Nhà văn 2010).
         Sinh ra lớn lên ở một làng bên sông thơ của Đỗ Văn Luyến cũng nỗi niềm bát ngát như sông ấy. Dòng sông quê hương luôn thao thức trong thơ ông có thể đấy là lí do tên của cả ba tập thơ của ông đều có “sông” (Nghe hát sông quê; Đôi bờ sông trăng; Làng bên sông).
         Con đường đến với thơ của Đỗ Văn Luyến rất giản dị đó là sự thổ lộ tình cảm của mình khi thầm thì khi hát lên cùng hoài niệm sẻ chia khát vọng. Hẳn vì thế mà thơ ông ở hai tập sau (Đôi bờ sông trăng Làng bên sông) chỉ một thể lục bát đẫm chất dân gian? Thơ với Đỗ Văn Luyến là khúc ru mình:
         - Thơ tình xanh sắc chiều thu
         Đọc lên lại gặp khúc ru chính mình
                                  (Ru mình)
         Thơ tự ru mình mà để “Xót lòng chấp nhận vị đời đắng cay” (Ru mình) “Sống trong hoài niệm để đêm bớt dài” (Nghe gió năm canh) và “Câu thơ nối trái tim người đắm say!” (Ngọn lửa). Duy nhất bài thơ “Chuyện đời” được kết thúc bằng câu “lục” là tiếng nấc trong thơ ông: “Câu thơ thao thức chuyện đời...”.
         Thơ Đỗ Văn Luyến lúc đầu chỉ là điều muốn nói ra nhưng đến nay qua ba tập thơ đã công bố thơ đã là một phần đời của ông và thơ ông đã đã làm phong phú thêm thơ của các tác giả Quảng Ninh. Lẽ thường của người làm thơ là trong thơ thường rõ những dấu ấn hình ảnh nghề nghiệp nhưng với Đỗ Văn Luyến thì không thế mà nghề nghiệp được ẩn sâu thơ thăm thẳm tình – đời của mình. Có người nói nghệ thuật là nỗi buồn đẹp thì thơ Đỗ Văn Luyến hành trình tới nỗi buồn ấy. Qua cái rất riêng ấy chúng ta thấy rõ được tấm lòng đau đáu với đời những trăn trở chân thành của tác giả:
         - Bạn bè biền biệt núi sông
         Chỉ còn kỷ niệm thức trong hồn người 
                               (Hè sang)
         - Anh nhìn trời đất mênh mông
         Buồn nghe tiếng gió triền sông thở dài
                                   (Gửi người giấu mặt)
         - Nỗi buồn đành gửi heo may
         Tìm em dõi cánh chim bay xa vời
                            (Thơ mùa thu)
         - Ngày trôi theo những tiếng cười
         Đêm về sống với đơn côi đời mình
                                 (Số kiếp)
         Thơ Đỗ Văn Luyến là ký ức là hình ảnh cuộc sống của ông. Từ làng bên sông đi khắp phương trời những lần gặp gỡ chia tay tưởng nhớ đều có ở thơ ông như tên các bài thơ “Bên cây đào Tô Hiệu” “Chiều mưa viếng Hàn Mặc Tử” “Tiễn người xa xứ”... Thơ ông có nhiều bài viết về bạn bè quê hương mái trường tuổi thơ: “Bạn bè thành những nhánh sông/ Mang ra biển lớn ước mong cội nguồn” (Nhớ trường xưa). Thơ ông có dấu ấn chiến tranh mà lứa tuổi ông là người lính: “Bàng hoàng qua cuộc chiến tranh/ Tuổi thơ mới đó đã thành ngày xưa” (Nhớ trường xưa); “Vẫn còn khói lửa biên cương/ Hẹn nhau ra chốn chiến trường tìm nhau!” (Ra viện).
         Dù ông tự ví như viết trong bài thơ “Thăm Tả Pìn Hồ” là “Anh là du khách một lần ghé qua” nhưng đến đâu vị “du khách” ấy đều làm thơ. Thiên nhiên trong thơ ông về từng vùng đất đều gắn với chiêm nghiệm và giãi bày cuộc đời : “Núi Cốc chiều mưa” “Xa Tam Đảo” “Thác Bạc” “Đêm Ba Bể” “Chiều Tây Hồ” “Đá Chông” “Đêm Cửa Lò” “Sông Hàn” “Lên Đà Lạt” “Tây Đô” “Thăm Đất Mũi”… Thơ chính là đời với Đỗ Văn Luyến “đời” được ông lí giải trong thơ: “Đời như sóng nước vậy thôi” (Ngẫm); “Đời như suối đổ về sông” (Mơ về ngày cũ); “Cuộc đời là kiếp sông trôi” (Nghe câu quan họ); “Cuộc đời danh lợi hư vinh” (Tản mạn); “Gánh đời hai nửa nắng – mưa/ Đã quen giá lạnh sao chưa ấm lòng?” (Gánh đời). Và nỗi đời thì:
         - Nỗi đời thì vẫn ngổn ngang   
         Cố hương mãi mãi mênh mang nghĩa tình 
         Hành trang là trái tim mình
         Tôi luôn ghi khắc bóng hình quê tôi
                          (Làng Cầm)
         Trong thơ Đỗ Văn Luyến hình ảnh quê hương sâu thẳm tha thiết. Thơ ông đã viết thơ tặng các cháu nội thật dạt dào yêu mến với mong ước cuộc đời cháu được “bình yên” cái mà cả cuộc đời ông một cán bộ Công an nhân dân sống và chiến đấu để có được cho cuộc sống xã hội :
         - Cháu sinh vào lúc nửa đêm
         Một ngôi sao nhỏ sáng thêm bầu trời
                  (Tặng cháu nội Đỗ Ngọc Minh)
         - Ngắm nhìn khuôn mặt hồn nhiên
         Cầu mong cháu được bình yên kiếp người!
                            (Tặng cháu nội Đỗ Hồng Minh Ngọc)
         Thơ của Đỗ Văn Luyến chính là bầu trời nhớ thương tự vấn chiêm nghiệm của ông. Lục bát của Đỗ Văn Luyến nhuần nhụy nhiều câu dư vang thăng hoa. Viết lục bát thường dễ sa vào sáo mòn tự nhiên chủ nghĩa. Lục bát của Đỗ Văn Luyến đã tránh được điểm này và đó là thành công nhất định của thơ ông. Cũng chính vì thế ở một số bài nhất là những bài lục bát dài sự đều đều đã khiến bài thơ dàn trải.
         Ở Quảng Ninh viết thơ lục bát hay có Triệu Nguyễn mới đây có Nguyễn Đăng Sâm. Tôi nghĩ kể tên những tác giả viết lục bát sau hai nhà thơ Triệu Nguyễn và Nguyễn Đăng Sâm hẳn phải nói đến Đỗ Văn Luyến.
        
         Xuân về
Sắc hương đằm thắm bên thềm
Xuân thì gần thế mà em đâu rồi?
Câu thơ anh vắt ngang trời
Gửi theo cánh én đến người tri âm.
Hạt mưa ngỡ tiếng thì thầm
Lời em từ phía xa xăm tìm về!
                9-2-2004
 
         Quỳnh Lâm mở hội
Quỳnh Lâm mở hội rồi đây
Tiếng chuông điểm một vòng quay bốn mùa
Tháp cao thơm ngọn gió lùa
Những trang huyền thoại như vừa đi qua
Ngày xuân sương khói la đà
Cửa thiền Đức Phật bước ra ngoài đời
Miền quê vàng nắng xanh đồi
Trời trao cánh én đợi người thập phương!
                      18-3-1999
         Mưa
Mưa rơi lộp bộp mái nhà
Tiếng mưa kéo khoảng trời xa lại gần
Tiếng mưa gợi nhớ người thân
Lòng ta thầm gọi bao lần: mưa! mưa!...
Đời vang theo nhịp mau thưa
Chuỗi ngày quá khứ như vừa hiện lên
Nghe mưa ào ạt bên thềm
Nghe mưa lay động mọi miền tâm tư.
Cô đơn nhớ cảnh giã từ
Bắt tay tiễn biệt mùa thu úa vàng
Bao giờ én gọi xuân sang
Bao giờ hết cảnh mơ màng... chiều mưa?
                      11-11-1977
         Hồ Núi Cốc
Đến Hồ Núi Cốc chiều mưa
Bao năm nước mắt người xưa vẫn đầy
Nỗi niềm thấu tận trời mây
Tình yêu khiến mảnh đất này thêm duyên
Hận lòng không thể nguôi quên
Dẫu rằng sông núi kề bên nhau rồi!
Sáng nay chim rộn vùng đồi
Bức tranh huyền thoại sáng ngời hiện ra
Sắc xanh mở đến bao la
Để cho muôn nẻo gần xa nối liền
Bốn bề sóng lặng gió êm
Trái tim đôi lứa hồn nhiên giữa đời!
Câu thơ viếng cuộc tình người
Muốn hòa trong tiếng khóc cười nhân gian.

Lai thi phuong thao

tho do van luyen

minh biet chu luyen tu lau nhung khong biet chu co tai lam tho hay nhu the qua may bai tho minh duoc nghe chinh chu doc minh cam nhan duoc trong tho chu nhung tran tro cua chu voi ban be anh em que huong va dong doi.
minh co nhieu ly do de cam phuc chu mot can bo cong an co tam hon nghe sy that dep ma khong the tim thay hay bat gap trong thoi buoi bay gio.
minh chuc chu cung gia dinh luon manh khoe.
minh hy vong co nhieu co hoi duoc doc tho cua chu

trthhuyen

Canh Dần sắp qua Tân Mão sắp tới chúc anh Hoài Giang cùng gia đình mạnh khỏe an lành. Chúc anh sẽ hoàn thành được tất cả các dự định trong hoạt động văn nghệ nhé.

trthhuyen

Chào Thy Nguyên nhé. Chúc em cùng xuân mới vui nhé. Đúng là làm thơ lục bát dễ viết khó hay. Có thể khó hay chính vì dễ viết chăng? Viết thế nào cũng có thể ra 6/8 nhưng không phải cái gì viết 6/8 như thế cũng có thể thành thơ.

Hoài Giang

Cảm ơn TTH đã giới thiệu những bài thơ hay của Đỗ Văn Luyến! Chúc năm mới luôn vui vẻ!

thynguyen81

Lục bát khó làm khó hay anh nhỉ! Em ko biết làm thơ lục bát.
Thăm anh! Chúc anh cùng gia đình một mùa xuân vui khỏe!