Nhớ thầy Văn Bình
Viết bởi trthhuyen | Apr 09, '12 @ 15:36
Thầy Nguyễn Văn Bình chủ nhiệm lớp chúng tôi, lớp Văn K9B (1983-1987) - Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã mất 5 - 4 - 2012 (tức rằm tháng ba, năm Nhâm Thìn), vì bệnh trọng.
Năm 1986, trước khi chúng tôi tốt nghiệp một năm, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, thầy xin về quê dạy phổ thông. Quê thầy ở xã Tân Phương, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Tiễn thầy về quê, tôi cùng thầy đáp tàu hỏa về ga Tiên Kiên, sau đó đi xe đạp. Sau mấy ngày ở quê thầy, thầy tiễn tôi qua bến đò La Phù sang Bất Bạt để về Hà Nội.
Khoa Ngữ văn hồi tôi học có hai thầy Bình mà tôi đều thân thiết, thầy (Nguyễn) Văn Bình và thầy Trần Hòa Bình. Một lần gặp thầy Văn Bình ở Hạ Long, thầy tháo kính cận đang đeo và nói cái kính này là của Trần Hòa Bình cho tớ. Mấy năm trước, trong một lần tới Phú Thọ, tôi có vào thăm thầy.
Giờ thì cả hai thầy Bình của tôi đã đi xa.
Nhớ thầy Văn Bình, tôi nhớ kỷ niệm chuyến về quê thầy 1986 và bài thơ "Bên bờ sông ấy" viết ở quê thầy.
Bên bờ sông ấy
Ban mai ngang sông
Ta nhớ
Núi Lưỡi Hái ngân câu chuyện cổ
Nhắc vô biên hoang dại bến sông này...
Trung du hẹn nắng tìm thân cọ
Bông gạo nào đỏ mãi lòng tay
Bờ sông cát con đò sang Bất Bạt
Khúc độc hành sông Mã có từ đây(*)
Gió thổi dọc mây nước La Phù
Lưỡi Hái sau lưng chia sông Đà hai nửa
Ta không thể dùng dằng thêm nữa
Nước đã hồng theo nắng trôi đi...
La Phù, 1986
------
(*)Thơ Quang Dũng
trong bài Tây Tiến: Sông Mã
gầm lên khúc độc hành
Cám ơn bác Nguyễn Xuân Dương
Viết bởi trthhuyen | Mar 26, '12 @ 18:13
Cám ơn bác Nguyễn Xuân Dương đã chia sẻ về thơ của tôi trong bài viết “Trương Thiếu Huyền – Khởi đầu của một tình yêu”.
Mới nhất, bác đã viết thư cho tôi và mong tôi gửi những tập thơ đã xuất bản cho bác. Bác cho biết đang viết về các chân dung văn nghệ sĩ Quảng Ninh.
“Thật khổ cho em là chưa có tập thơ nào, bác Nguyễn Xuân Dương ơi!”
TRƯƠNG THIẾU HUYỀN - KHỞI ĐẦU CỦA MỘT TÌNH YÊU
Nguyễn Xuân Dương
(Báo Hạ Long, số ra ngày 20-3-2012)
Tôi không có may mắn được tiếp xúc nhiều với thơ của Trương Thiếu Huyền. Lần đầu tiên tôi được đọc thơ anh là bài “Chiều xuân thị trấn Trới” đăng trên trang thơ hay Quảng Ninh, báo Văn nghệ Hạ Long. Bài thơ đã tạo dựng cho tôi cảm xúc để có một bài cảm nhận về trang thơ hay Quảng Ninh. Có thể nói không ngoa Trương Thiếu Huyền, hay nói đúng hơn là “Chiều xuân thị trấn Trới” đã thổi bùng lên trong tôi tình yêu đối với các nhà thơ Quảng Ninh.
Bài thơ Chiều xuân thị trấn Trới thật hiện đại, đậm chất trí tuệ và giàu cảm xúc như thế. Đọc bài thơ tôi cứ đinh ninh Trương Thiếu Huyền là đứa con mà thị trấn Trới đã mang nặng đẻ đau, nuôi dạy anh khôn lớn thành người và thành một thi sĩ tài hoa. Nhưng tôi đã nhầm, khi đọc chùm thơ của anh trong “Tuyển tập 40 năm thơ Quảng Ninh (1963-2003)”. Tôi mới biết anh là người Hải Phòng và phải: “Lộn ba lô tôi ra phố kiếm tiền” khi nhìn thấy người yêu đã phụ bạc: “Em áo đỏ về làng mời cưới”.
Có nơi nào đẹp hơn như thị trấn Trới của Trương Thiếu Huyền: “Thị trấn nhỏ xinh như trái chín đầu tiên của cây bói quả”, vẻ đẹp trinh nguyên và kỳ diệu quá. Đã trái chín mà lại là trái chín đầu tiên của cây bói quả. Đọc câu thơ ta như cảm thấy vị ngọt mát trong lành cứ lan tỏa trong tâm hồn ta trong huyết quản ta. Và “Nếu thị trấn được ví là cô gái/ Cô gái này mới bắt đầu yêu”. Một câu thơ thật hiện đại. Một vùng đất được ví là một người con gái thì đây là lần đầu tiên tôi được gặp nó trong thơ. Câu thơ hiện đại vì sự táo bạo trong suy nghĩ, trong tưởng tượng của Trương Thiếu Huyền. Mà lại là cô gái mới bặt đầu yêu thì vẻ đẹp trinh trắng của thị trấn Trới một lần nữa được nhân lên đến vạn lần. Có gì hạnh phúc hơn, nhân ái hơn và tốt đẹp hơn ở một vùng đất như thị trấn Trới của Trương Thiếu Huyền. Chỉ cần những câu thơ như thế tôi đã yêu anh bằng một tinh yêu không thể tỏ bày. Sau bao đắn đo và từ đó đến nay đã hơn 5 năm trời, tôi vẫn muốn biết một đôi điều về anh, về thơ anh. Yêu nhiều nên bao giờ cũng gặp được may mắn, đó là tuyển tập thơ Quảng Ninh mà đứa cháu gái đã tặng tôi. Trong đó anh có chùm thơ 5 bài. Bài nào cũng để lại trong tôi nhiều rung động. Rung động cả về con tim và cả về trí tuệ.
Tôi xin trở lại với bài “Hải Phòng của tôi”. Đọc hai câu thơ: “Em áo đỏ về làng mời cưới/ Lộn ba lô tôi ra phố kiếm tiền”, tôi chạnh nhớ về cuộc đời tôi vào những năm đầu tiên phải xa xứ. Hai thái cực ngược chiều nhau, em về anh lại phải dằn lòng phẫn chí ra đi. Một nghịch cảnh quá đớn đau của hai con người đã từng thề thốt yêu đương. Đáng ra em về thì anh phải vui, phải hạnh phúc vì trên mảnh đất quê hương anh đã từng “Hải Phòng của tôi bếp chiều thơm rơm mới/ Khói có theo em về với nội thành/ Ngóng đợi em suốt mùa rươi bến Khuể/ Anh ra đồng Còng châm lửa heo may”. Thế mà “Em áo đỏ về làng mời cưới” với màu áo đỏ chói chang và tập thiệp hồng trên tay đã gửi cho chàng trai bức thông điệp về sự tan vỡ của tình yêu lứa đôi.
Có cái gì đó thật ngang tàng, lãng tử và bất cần nhưng cũng rất nhiều chua xót qua câu thơ: “Lộn ba lô tôi ra phố kiếm tiền”. Cái ba lô con cóc nếu để nguyên có thể đựng cả một gia tài của người lính, nhưng lộn nó lại may ra chỉ đựng được hai bộ quần áo mỏng, bàn chải và hộp thuốc đánh răng. Ta hình dung cái dây vải vắt qua vai, cái ba lô miệng túm tụm lủng lẳng sau cái lưng với bước đi mệt nhọc chán chường trên đường phố đông người lại qua với một tâm hồn vô cảm với cuộc đời vì người yêu đã phụ bạc anh. Nhưng anh không thể phụ bạc quê hương. Biết đâu khi người yêu không phụ bạc mà trở về với anh thì anh vẫn là người chồng biết yêu vợ chăm con và một nắng hai sương với ruộng đồng. Biết đâu cái phẫn chí đã tạo dựng trong anh con người thi sĩ. Sao người con gái lại có thể hững hờ với một chàng trai si tình và đằm thắm yêu thương đến thế?
“Người Sơn Tây” của Trương Thiếu Huyền đẹp thế. Cảnh Sơn Tây đẹp thế. Nơi “Núi Tản, sông Đà trầm tích thời gian”. Tưởng rằng Sơn Tây sẽ tồn tại vĩnh hằng với thời gian. Nhưng Sơn Tây giờ đây không còn trên bản đồ Việt Nam. Nhà văn Phạm Việt Long đã viết bài văn điếu tỉnh Hà Tây. Cái được và cái mất bao giờ cũng đan xen nhau và loại trừ nhau. Nhưng biết làm sao, đó là quy luật của sự phát triển. Không hiểu Trương Thiếu Huyền có phải rơi lệ không khi đọc bài văn điếu tỉnh Hà Tây đầy xúc cảm của Phạm Việt Long?
“Đi trong đêm sương” là một cách nhìn đầy lòng nhân ái của tác giả đối với lớp người trẻ tuổi. Tuổi trẻ của họ thật đẹp. Ta nhìn thấy cái ngang tàng, tự mãn nhưng rất yêu đời với những chàng trai trẻ qua thơ Trương Thiếu Huyền. Ta yêu những con người như thế, những con người rồi đây sẽ góp phần xây đắp tương lai: “Họ tự nhận là công dân nửa bán cầu đang thức/ Thương nửa bán cầu nhân loại giấc mơ say”. Có cái gì đó to tát quá không? Tự mãn quá không? Nhưng ta đã chấp nhận nó như chấp nhận những điều tốt đẹp nhất trong đời. Tôi rất thích hai câu thơ: “Chàng thi sĩ chỉ thơ mình mà đọc/ Trong làng văn chàng chỉ phục riêng chàng”. Hai câu thơ nhiều lúc đã là cứu giúp tôi vượt ra khỏi những cảnh ngộ đáng buồn vì phải nghe một người nào đó cứ đọc hết bài thơ này đến bài thơ khác. Nhiều lúc tôi đã sử dụng nó như một thứ vũ khí để bảo vệ cho mình. Có rất nhiều người cứ ngộ nhận mình là thi sĩ nên chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến một câu thơ của ai trong đời.
Trương Thiếu Huyền có những câu thơ đặc tả tài hoa. Nói về người lính: “Chàng thiếu uý tháng nữa lên trung uý/ Ngực áo phanh nghiêng ngả cả quân hàm/ Trái đất này chàng là vị tướng/ Vị tướng thì có quyền hát oang oang”. Và đây là hình ảnh của chàng trai trẻ đang yêu: “Chàng trẻ nhết sớm mai lên Đông Bắc/ Ở nơi này chàng có một người yêu/ Chàng hát to để cho cô gái biết/ Mặc những ai đang mộng giấc mơ kiều''. Hình ảnh của người chủ quán hay cũng chính là cái tôi của nhà thơ - Người quan sát. Chắc rằng Trương Thiếu Huyền cũng đang tiếc nuối một thời tuổi trẻ đã qua.
5 bài thơ mà đã như muôn mặt cuộc đời. 5 bài thơ đã cho ta cảm nhận về một Trương Thiếu Huyền, người đã có cách nhìn, cách cảm rất hiện đại và cũng rất dạt dào cảm xúc. Tôi khao khát được đọc toàn bộ những tác phẩm của Trương.Thiếu Huyền để có thể viết được những dòng ngưỡng mộ đối với một con người đã thắp lên trong tôi một tình yêu mới: Tình yêu thơ Quảng Ninh - Xin cảm ơn Trương Thiếu Huyền - một người tôi ít có may mắn được gặp mặt, nhưng không vì thế mà tình yêu thơ anh giảm sút trong tôi.
Bắc Ninh, những ngày cuối đông 2011
Phạm Công Trứ thầm ghen
Viết bởi trthhuyen | Mar 22, '12 @ 12:41
Thấy thơ bác Phạm Công Trứ trên trannhuong.com, liền phôn theo cái số từ xửa xưa, thế mà vẫn gặp. “Ngỡ anh đã đổi số rồi”. “Vẫn cũ kĩ thế thôi, sắp hưu rồi”... Cùng nhắc lại chuyện xưa một thuở. Cái thuở: Trên chùa các cụ tụng kinh/ Chúng mình trẻ quá, chúng mình... tụng nhau (Phạm Công Trứ)... Và bác gửi bài thơ "Bình - Phủ - Quảng". Bình Phủ Quảng là bút danh vẽ tranh của Trần Hòa Bình (quê Phủ Quảng Oai). Phạm Công Trứ vẽ Trần Hòa Bình bằng bài thơ này.
Trần Hòa Bình giống Phạm Công Trứ: cùng dạy học, làm thơ, làm báo, nhưng xem ra cái gì cũng kém hoành tráng... Làm thơ thì Trần Hòa Bình chưa in thành tập, chưa làm đơn để trở thành hội viên Hội Nhà văn VN, trong khi Phạm Công Trứ thì đủ cả. Dạy học thì Trần Hòa Bình chưa làm xong tiến sĩ (nghe nhà báo Tạ Ngọc Tấn nói, Trần Hòa Bình chỉ hứa sẽ làm nhưng rồi không thấy làm), trong khi Phạm Công Trứ lại là tiến sĩ bảo vệ ở nước ngoài. Làm báo thì không chức tước, chính quy như Phạm Công Trứ.
Trần Hòa Bình thua thiệt thế, vậy mà Phạm Công Trứ vẫn thầm ghen...
Bình-Phủ-Quảng
Mắt em, ồ lạ, như chiều vắng
Không khói mà cay khói đốt đồng
T. H. B.
Quần bò
áo phông
Vai thổ cẩm
Tóc trùm gáy
Miệng rộng
Lấp loá mắt cười sau kính cận
Tròn xoe
To đùng
Dày cộp
ấy là Trần Hoà Bình!
“Bình-Phủ-Quảng (không phải Phủ-Quốc) như đôi lần chính gã tự nhấn
Là nhà giáo, y đã thầm ghen với họ Trần
Vì gã có rất nhiều đệ tử
Đệ tử nào cũng cung cúc thầy Bình em
Là nhà báo, y đã thầm ghen với họ Trần
Vì gã có rất nhiều bạn đọc
Thì cứ thử giở tầm thư mà xem
Là người làm thơ, y cũng thầm ghen với họ Trần
Vì gã có thêm một
Thì cứ mở sổ tay sinh viên mà xem
Bây giờ, giời ạ, lại thêm một thầm ghen
Gã ra đi như một lãng tử
Không thèm biết đến tuổi già đồng nghĩa với ốm đau gàn dở
Tiếc thương gã, bạn bè xuýt xoa :
Chưa in một tập thơ
Chưa xong bằng tiến sĩ
Chưa kịp xây lại nhà
Chưa kịp cưới lại vợ
Chưa cả những gì gì đó nữa
Thế mới là Trần Hoà Bình - “Bình-Phủ-Quảng!
Kẻ thầm ghen này
Thầm nghĩ.
8 - 2008
PHẠM CÔNG TRỨ
(Đã in trong Phồn thi (III), Nxb Hội Nhà Văn, năm 2009)
Khuể đã bắc cầu chợ vẫn Đôi
Viết bởi trthhuyen | Mar 02, '12 @ 14:40
Khuể đã bắc cầu chợ vẫn Đôi
Hẹn hò Tiên Lãng chửa về chơi
Cầu Đen giục ngả Vinh Quang đó
Vĩnh Bảo sang đò Kiến Thiết ơi
Vằng vặc bến Hàn lời sấm Trạng(*)
Mù mù Vân Úc ánh ma trơi
Thế gian đa sự lòng vương nợ
Tiên Lãng ai người còn nhớ tôi?
2.3.2012
(*) Lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi - Sông Hàn nối lại thì tôi lại về".
Tôi quê xã Vinh Quang
Viết bởi trthhuyen | Feb 08, '12 @ 11:15
Phải nói ngay, cùng xã Vinh Quang của TP Hải Phòng, nhưng xã Vinh Quang tôi thuộc huyện Vĩnh Bảo, chứ không phải của huyện Tiên Lãng.
Trước đây tôi có đọc một văn bản quy định, trong một địa phương cấp tỉnh thì tên địa phương cấp xã không được đặt tên trùng nhau. Bây giờ việc trùng nhau như thế có rất nhiều ở các tỉnh.
Hồi năm 1976, tôi dự Đại hội cháu ngoan Bác Hồ TP Hải Phòng, có một chị phụ trách Đội của Thành Đoàn hỏi tôi “quê ở đâu”, tôi đáp “xã Vinh Quang”. Chị ấy nói “thế thì gần biển”. Tôi bảo “không phải”. Từ chuyện này mà tôi biết huyện Tiên Lãng cũng có xã Vinh Quang.
Trước đây phà đò khó khăn, từ Vĩnh Bảo đạp xe đạp đi nội thành Hải Phòng đều phải qua Tiên Lãng. Những địa danh cầu phao Đăng, chợ Đôi, cầu Đen, phà Khuể đã thân thiết với tôi từ lâu. Từ cầu Đen có con đường rẽ ra phía đông, cuối đường đó là xã Vinh Quang. Trên con đường này, tôi đã nhiều lần đến Trường THPT Toàn Thắng để thăm cô bạn dạy học ở đó. Tôi còn có hai cô bạn học đại học quê Tiên Lãng, trong đó có người quê xã Hùng Thắng (huyện tôi lại cũng có xã Hùng Thắng), sát cạnh xã Vinh Quang ấy.
Thời đi lính rồi làm sinh viên là quãng thời gian tôi qua lại nhiều nhất với Tiên Lãng. Nơi đây tôi có nhiều bạn lính, đặc biết tôi có người cùng quê Vĩnh Bảo mà tôi kính trọng như cha. Ông cũng quý tôi như con cháu trong nhà. Đó là nhà thơ, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Siêu Phàm, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Thị trấn Tiên Lãng. Chính ở Tiên Lãng, tôi đã được nhà văn-nhà báo Cao Năm và ông Nguyễn Siêu Phàm giúp mua được hai túp thuốc lá Sông Cầu ở cửa hàng bách hóa huyện để tôi làm lễ ăn hỏi vợ.
Tiên Lãng cũng như Vĩnh Bảo là những huyện nghèo của Hải Phòng nhưng đều có truyền thống hiếu học, có nhiều người trưởng thành từ học hành. Nói đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chúng ta tự hào, thì chúng ta cũng cần biết, Tiên Lãng là quê mẹ của Cụ Trạng. Mẹ Cụ Trạng là nữ sĩ Nhữ Thị Thục, con gái Thượng thư Nhữ Văn Lan.
Đặc biệt, Tiên Lãng cũng như Vĩnh Bảo đều là những huyện trân trọng văn học nghệ thuật, có nhiều người yêu thơ. Từ những năm 80 của thế kỷ trước, huyện Tiên Lãng đã có cho xuất bản một tập thơ. Nhà thơ Nguyễn Siêu Phàm là một trong những người tuyển chọn tập thơ này và tôi cũng có bài thơ tham gia. Nhà thơ Phạm Ngà viết lời giới thiệu tập thơ. Tôi nhớ kết thúc bài viết này lại là câu thơ kết trong bài thơ của tôi: “Dẫu những gì còn băn khoăn trên bản thảo/ Xin vẹn toàn bài thơ với quê hương”. Khi viết bài thơ “Hải Phòng của tôi”, tôi đã nhớ tới Tiên Lãng: “Ngóng đợi em hết mùa rươi bến Khuể/ Tôi ra đồng Còng châm lửa heo may”.
Trước Tết Nguyên đán vừa rồi xảy ra “sự kiện Tiên Lãng”, tôi đã viết bài thơ “Tháng Chạp” tặng nhà thơ – nhà giáo Nguyễn Siêu Phàm, trong đó có mong muốn: “Quê nhà mạ đang rét/ Bãi triều nước ngập tràn/ Chuyện đất đai tranh chấp/ Mong không ai bị oan”.
Hôm nay “sự kiện Tiên Lãng” đã bắt đầu được giải quyết, tôi rất vui và tưởng nhớ về vùng quê Tiên Lãng, nơi có những kỷ niệm thân thiết của mình.
Khai bút Nhâm Thìn 2012
Viết bởi trthhuyen | Jan 23, '12 @ 01:33
Khai bút bàn chuyện chi đây
Năm qua khó nhọc, năm nay phát tài?
Nông dân vẫn chuyện đất đai
Trí thức vẫn chuyện hiền tài quốc gia
Quân đội vẫn chuyện biển xa
Công nhân vẫn chuyện ai là công nhân
Doanh nhân vẫn chuyện cổ phần
Theo đà khai bút mấy vần nôm na…
Tháng Chạp
Viết bởi trthhuyen | Jan 09, '12 @ 12:26
Tặng Nhà giáo- nhà thơ Nguyễn Siêu Phàm
Cuối năm xanh nải chuối
Vọng quê hồng nén nhang
Đã qua bao tháng Chạp
Xa quê thành lang thang
Quê nhà mạ đang rét
Bãi triều nước ngập tràn
Chuyện đất đai tranh chấp
Mong không ai bị oan
Cái gì nhớ ta nhớ
Nhớ ông bà mẹ cha
Chỉ biết nhờ hương hoa
Dâng lên Trời tháng Chạp
Rằm tháng Chạp Tân Mão
Chiều xuân thị trấn Trới
Viết bởi trthhuyen | Dec 31, '11 @ 12:28
“Ồ, đã 25 năm rồi đó nhỉ!” 25 năm trước, năm 1987, tôi ra Vùng mỏ công tác và có bài thơ này.
Thị trấn Trới chiều xuân nay tôi đến
Biển đằng kia và rừng ở đằng này
Một tầm mắt tới biển xanh, một tầm tay tới gỗ
Vạt nắng vàng im lìm trên cỏ
Xui nhớ về truyền thuyết thuở xa xưa...
Rất có thể trước khi cùng năm mươi con lên rừng
Âu Cơ đến nơi này chia tay Long Quân cùng năm mươi con
xuống biển
Rất có thể chiếc thuyền thứ nhất của Tổ tiên đóng bằng
gỗ Hoành Bồ
Mọi vật quanh tôi chẳng thể tình cờ
Thị trấn nhỏ xinh như trái chín đầu tiên của cây bói quả
Chẳng thể hững hờ trên con đường mới mở
Tôi bâng khuâng chờ tiếng tắc kè kêu
Biển ngoài kia xanh đến bao nhiêu
Hạ Long chứa biết bao huyền thoại
Nếu thị trấn được ví là cô gái
Cô gái này mới bắt đầu yêu
Tôi chợt nhận ra mới lạ của buổi chiều
Ai đang gọi tên mình cuối phố
Với thị trấn tôi là người có lỗi
Từng băn khoăn mảnh đất đón chờ mình
1987





